Kỹ thuật in để lại dấu vết vật lý mà kính lúp nhìn thấy được: nét chữ lún, mép mực loang, chấm tram, hạt mực bột. Mỗi kỹ thuật chỉ có từ một thời điểm, nên nhận ra kỹ thuật là biết mốc sớm nhất của tài liệu, và đôi khi biết đó là bản in lại.
Một cuốn sách, một tờ truyền đơn, một tờ giấy chứng nhận đều có thể ghi bất kỳ năm nào trên đó. Năm ghi là lời khai, còn dấu vết kỹ thuật in là vật chứng. Người làm thư viện, lưu trữ và sưu tập tài liệu vẫn dùng một chiếc kính lúp mười lần và một nguồn sáng chiếu xiên để đọc những vật chứng này trước khi tin vào lời khai.
In mộc bản để lại dấu gì, và vì sao giúp xếp thứ tự các lần in?
Dấu hiệu nhận ra
In mộc bản là khắc ngược cả một trang lên tấm ván gỗ, quét mực, đặt giấy và xoa đều. Chữ trên trang in mộc bản có nét hơi cứng ở góc vì dao khắc, mực đậm nhạt theo lực xoa, và giấy không bị ép lõm nhiều. Các chữ giống nhau trên cùng trang không hoàn toàn giống nhau, vì mỗi chữ được khắc riêng bằng tay.
Vết nứt ván như vân tay theo thời gian
Ván gỗ dùng nhiều lần thì nứt, mẻ, mòn nét. Một vết nứt xuất hiện ở lần in thứ ba sẽ có mặt ở mọi lần in sau, và ngày càng dài hơn. So các bản in của cùng một bộ ván, người nghiên cứu xếp được bản nào in trước, bản nào in sau, dù không có năm nào ghi trên đó. Đây là định tuổi tương đối thuần tuý: biết thứ tự, chưa biết năm.
Khi ván hỏng quá, người ta khắc lại vài tờ để thay. Tờ khắc lại có nét chữ của thợ khác, lối khắc khác. Một cuốn sách có vài tờ khác nét là dấu hiệu bộ ván đã được bổ sung, và lần in đó muộn hơn lần khắc đầu.
In đá và in chữ rời khác nhau thế nào dưới kính lúp?
In đá, hay in thạch bản, xuất hiện ở châu Âu cuối thế kỷ 18. Hình và chữ được vẽ bằng chất béo lên mặt đá phẳng, mực chỉ bám vào chỗ có chất béo. Bản in đá có nét mực nằm phẳng trên mặt giấy, không lún, mép nét mềm như vẽ, rất hợp để in chữ viết tay, chữ Hán và tranh minh hoạ. Nhìn qua dễ nhầm với bản viết tay, nhưng soi kỹ sẽ thấy mọi bản cùng loại giống hệt nhau đến từng vệt mực.
In chữ rời bằng chữ chì đúc sẵn, xếp thành dòng, ép lên giấy. Giấy bị ép nên nét chữ hơi lún, sờ mặt sau có thể thấy gồ. Mép nét có viền mực đậm hơn ở giữa vì mực bị ép dồn ra. Cùng một con chữ được dùng lặp đi lặp lại, nên một chữ bị mẻ sẽ xuất hiện nhiều lần trong trang với cùng vết mẻ. Báo chí, sách quốc ngữ cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20 phần lớn in theo cách này.
Một chi tiết nhỏ có ích là kiểu dấu tiếng Việt. Chữ quốc ngữ in chữ chì thời kỳ đầu thường đặt dấu không đều, có chữ dấu lệch sang bên vì thợ phải ghép thêm con dấu. Các bộ chữ đúc sau này mới có sẵn chữ mang dấu gọn gàng.
Máy chữ, in offset và máy in văn phòng nhận ra bằng gì?
Máy chữ
Chữ máy chữ phần lớn có độ rộng đều nhau, chữ i chiếm chỗ bằng chữ m. Nét chữ hơi lún, độ đậm phụ thuộc lực gõ và độ mòn ruy băng. Mỗi chiếc máy có những con chữ lệch dòng, mẻ, mòn riêng, nên người giám định có thể so hai văn bản xem có cùng một máy hay không. Máy chữ có đủ dấu tiếng Việt cũng là một chi tiết đáng ghi lại.
In offset
In offset dùng bản kẽm, mực truyền qua trục cao su rồi mới sang giấy, nên giấy không bị ép lõm. Ảnh và màu được tạo bằng chấm tram: dưới kính lúp, vùng xám là những chấm đen to nhỏ, vùng màu là những chấm xanh lơ, hồng sẫm, vàng, đen xếp thành hình hoa thị. Một tấm “ảnh chụp đầu thế kỷ 20” mà soi thấy chấm tram bốn màu là bản in lại trong sách báo, không phải ảnh gốc.
Máy in laser, máy in phun, máy photocopy
Máy in laser và máy photocopy dùng mực bột nung chảy, hạt mực nằm nổi trên mặt giấy, mép nét có những hạt li ti văng ra ngoài. Máy in phun phun những giọt mực lỏng thấm vào giấy, mép nét hơi loang. Nhiều máy in laser màu còn in thêm những chấm vàng rất nhỏ khó thấy bằng mắt thường. Một tài liệu ghi năm 1960 mà nét chữ là hạt mực bột thì hoặc là bản sao, hoặc được làm muộn hơn nhiều.
Bảng nhận diện nhanh các kỹ thuật in
Các mốc thời gian dưới đây là khoảng phổ biến, nên được hiểu là mốc sớm nhất có thể chứ không phải năm in.
| Kỹ thuật | Dấu hiệu dưới kính lúp | Phổ biến từ khoảng | Bẫy hay gặp |
|---|---|---|---|
| Mộc bản | Nét khắc cứng góc, mỗi chữ hơi khác nhau, vết nứt ván | Rất lâu đời ở Đông Á | Ván cũ có thể in lại nhiều đời sau |
| In đá | Nét phẳng, mép mềm, các bản giống hệt nhau | Cuối thế kỷ 18 ở châu Âu | Dễ nhầm với bản viết tay |
| Chữ chì | Nét lún, viền mực đậm, con chữ mẻ lặp lại | Giữa thế kỷ 15 ở châu Âu; ở Việt Nam muộn hơn nhiều | Bản in lại bằng offset trông giống nhưng không lún |
| Máy chữ | Chữ rộng đều, lún nhẹ, lệch dòng riêng từng máy | Cuối thế kỷ 19 | Bản chụp lại mất vết lún |
| Offset | Chấm tram, hoa thị bốn màu, không lún | Thế kỷ 20 | Hay dùng để in lại ảnh và tài liệu cũ |
| Laser, photocopy | Hạt mực bột nổi, hạt văng ngoài nét | Nửa sau thế kỷ 20 | Bản sao của tài liệu thật cũng như vậy |
Phông chữ và trình bày cũng là chứng cứ
Phông chữ có ngày ra đời. Một kiểu chữ được thiết kế vào một năm, đưa vào máy tính vào một năm khác. Tài liệu được cho là đánh máy giữa thế kỷ 20 nhưng dùng đúng phông chữ mặc định của phần mềm soạn thảo hiện đại, với khoảng cách chữ co giãn đều, là dấu hiệu đáng ngờ.
Chữ Việt có dấu trên máy tính. Chữ Việt đủ dấu, đặt dấu chuẩn, đều tăm tắp trên từng dòng là đặc trưng của soạn thảo bằng máy tính. Máy chữ và chữ chì đời đầu hiếm khi cho được độ đều này.
Căn lề hai bên hoàn hảo. Máy chữ khó căn đều lề phải; sắp chữ chì làm được nhưng tốn công. Văn bản đánh máy “cũ” mà lề phải thẳng tắp, khoảng cách giữa các từ co giãn mịn, nhiều khả năng là làm trên máy tính.
Thứ tự soi một tài liệu in
Không cần máy móc đắt tiền, chỉ cần kính lúp và một đèn bàn có thể xoay.
- Chiếu đèn xiên gần sát mặt giấy, xem nét chữ có lún hay nổi không.
- Lật mặt sau, sờ nhẹ bằng đầu ngón tay sạch xem có gồ theo dòng chữ không.
- Soi kính lúp vào vùng ảnh hoặc vùng màu tìm chấm tram.
- Soi mép nét chữ: mép cứng, mép mềm, mép có hạt văng hay mép loang.
- Tìm một chữ cái hay gặp, như chữ a hoặc chữ n, so năm sáu lần xuất hiện xem có giống hệt nhau không.
- Ghi lại kết luận theo dạng “in chữ chì, có thể là bản gốc” hoặc “in offset, là bản in lại”, kèm ảnh chụp cận.
Kết luận về kỹ thuật in chỉ cho mốc sớm nhất. Muốn thu hẹp hơn cần đối chiếu giấy, nội dung và những bản in khác của cùng tài liệu ở thư viện.
Câu hỏi thường gặp
Sách in mộc bản có chắc là sách cổ không?
Không chắc. Ván khắc có thể được giữ và in lại nhiều đời sau, giấy in lần sau mới hơn hẳn lần đầu. Muốn biết lần in, cần xem giấy, vết nứt ván và lời ghi của người in.
Làm sao biết một tấm ảnh trong sách là ảnh gốc hay bản in lại?
Soi kính lúp. Ảnh gốc in trên giấy ảnh có tông liền, không có chấm. Bản in lại trên sách báo hiện ra những chấm tram nhỏ đều đặn, ảnh màu thì chấm xếp hình hoa thị.
Máy chữ có thể nhận ra từng chiếc riêng không?
Trong nhiều trường hợp có thể. Mỗi chiếc máy có con chữ mòn, mẻ, lệch dòng theo kiểu riêng. Giám định viên so nhiều chữ cái giữa hai văn bản để biết có cùng máy hay không.
Chữ quốc ngữ bắt đầu được in từ khi nào?
Chữ quốc ngữ đã được in bằng chữ rời từ thế kỷ 17 trong sách của các giáo sĩ phương Tây ở châu Âu. Ở trong nước, sách báo quốc ngữ in chữ chì trở nên phổ biến từ nửa sau thế kỷ 19.
Có cần tháo đóng gáy sách để xem kỹ thuật in không?
Không cần. Hầu hết dấu hiệu nhận ra được ngay trên trang sách mở bằng kính lúp và đèn xiên. Tháo gáy làm hỏng sách và nên để cho người làm bảo quản.