Đồng tiền và huy chương La Mã tìm ở Óc Eo cho biết lớp chứa chúng không thể sớm hơn thời điểm chúng được đúc, khoảng thế kỷ II Công nguyên. Chúng không cho biết thương cảng ra đời năm nào. Văn hoá Óc Eo thường được xếp vào khoảng thế kỷ I tới thế kỷ VII Công nguyên.
Óc Eo, ở vùng Thoại Sơn tỉnh An Giang ngày nay, được khai quật quy mô đầu tiên vào giữa thế kỷ XX và từ đó nổi tiếng vì những hiện vật đến từ rất xa: đồ trang sức kiểu Ấn Độ, hạt chuỗi, gương đồng Trung Hoa, và nhất là vật đúc mang hình hoàng đế La Mã. Người đọc tin tức hay hiểu những vật này như giấy khai sinh của thương cảng. Bài này giải thích cách các nhà khảo cổ thật sự dùng chúng, theo một nguyên tắc có tên là định niên đại chéo.
Định niên đại chéo là gì?
Định niên đại chéo là mượn niên đại đã biết của một vùng có chữ viết, có sử sách, để đặt mốc cho một vùng chưa có hoặc có ít chữ viết. Khi một vật có niên đại chắc ở nơi sản xuất được tìm thấy trong lớp đất ở nơi khác, nó trở thành chiếc đinh ghim thời gian cho lớp đất ấy.
Ở Óc Eo, những chiếc đinh ghim đó đến từ đế quốc La Mã, từ Ấn Độ và từ Trung Hoa, ba vùng có hệ thống ghi chép niên đại phát triển. Đây là lý do Óc Eo có giá trị lớn với khoa học niên đại: nó nằm ở giao điểm của nhiều dòng thời gian đã biết.
Huy chương mang hình hoàng đế Antoninus Pius
Vật và mốc
Trong số hiện vật nổi tiếng nhất từ đợt khai quật đầu tiên có một huy chương vàng mang hình hoàng đế La Mã Antoninus Pius, người trị vì khoảng giữa thế kỷ II Công nguyên. Vật đúc mang tên và hình một hoàng đế chỉ có thể được làm trong hoặc sau thời ông. Như vậy lớp đất chứa nó không thể sớm hơn khoảng giữa thế kỷ II.
Điều nó không nói
Huy chương không nói nó tới Óc Eo khi nào. Một vật quý có thể đi qua nhiều tay, nhiều thương cảng, được cất giữ, truyền lại hàng chục năm hoặc hơn trước khi rơi vào lớp đất. Nó cũng không nói thương cảng bắt đầu từ lúc ấy: Óc Eo có thể đã hoạt động trước đó, chỉ là lớp sớm hơn không chứa vật có niên đại ghi sẵn.
Ngoài ra, nhiều hiện vật đầu tiên được thu cả qua người dân đào bới trước khi khai quật bài bản, nên bối cảnh lớp đất của một số vật không còn rõ. Mốc từ những vật này vì thế được dùng thận trọng hơn mốc từ vật tìm trong hố có ghi chép.
Chữ khắc: niên đại từ hình dáng con chữ
Ở Óc Eo và các di tích cùng văn hoá còn có lá vàng, con dấu, nhẫn mang chữ khắc thuộc hệ chữ có nguồn gốc Ấn Độ, ghi tiếng Phạn hoặc ngôn ngữ liên quan. Hình dáng các con chữ thay đổi theo thời gian và vùng, giống như chữ viết tay của mỗi thời một khác. Người nghiên cứu cổ tự học so sánh nét chữ với văn bản có niên đại ở Ấn Độ và Đông Nam Á, từ đó xếp chữ khắc vào khoảng thế kỷ nào.
Niên đại theo cổ tự thường rộng một vài thế kỷ và phụ thuộc vào kinh nghiệm so sánh. Nó hữu ích nhất khi khớp với các nguồn khác, ví dụ cùng lớp đất có mẫu than đo được carbon-14.
Các nguồn niên đại ở Óc Eo và cách đọc
Bảng dưới gom các loại chứng cứ chính. Không loại nào đứng một mình; sức nặng nằm ở chỗ chúng chỉ về cùng một khoảng.
| Chứng cứ | Cho mốc gì | Cần lưu ý |
|---|---|---|
| Huy chương, tiền La Mã | Lớp chứa không sớm hơn khoảng thế kỷ II | Vật quý lưu truyền lâu; bối cảnh một số vật không rõ |
| Gương đồng, tiền Trung Hoa | Mốc không sớm hơn theo triều đại phát hành | Cũng có độ trễ lưu hành |
| Chữ khắc trên lá vàng, con dấu | Khoảng thế kỷ theo cổ tự | Rộng, cần người chuyên môn so sánh |
| Hạt chuỗi, đồ trang sức kiểu Ấn Độ | So kiểu với nơi sản xuất có niên đại | Kiểu dáng có thể kéo dài nhiều thế kỷ |
| Carbon-14 trên gỗ, than | Con số tuyệt đối có sai số | Cọc gỗ kiến trúc có thể lấy từ cây già |
Khoảng thế kỷ I tới thế kỷ VII mà sách phổ thông ghi là kết quả gộp từ nhiều loại chứng cứ này, cùng với các cuộc khai quật về sau ở nhiều di tích Óc Eo khác trên đồng bằng Nam Bộ.
Các đợt khai quật về sau bổ sung điều gì?
Từ hiện vật lẻ sang lớp cư trú và kiến trúc
Những đợt nghiên cứu sau này ở Óc Eo – Ba Thê và các di tích cùng văn hoá trên đồng bằng Nam Bộ chú ý nhiều hơn tới lớp cư trú, nền kiến trúc gạch, đá và hệ thống cọc gỗ của nhà sàn ven kênh. Lợi thế là mẫu được lấy trong hố có ghi chép, nên quan hệ giữa mẫu và lớp rõ ràng hơn nhiều so với hiện vật thu nhặt thời đầu.
Kết quả chung cho thấy khu vực có nhiều giai đoạn hoạt động nối tiếp, từ cư trú nhà sàn tới các công trình kiến trúc tôn giáo bằng gạch muộn hơn. Thay vì một thương cảng xuất hiện rồi biến mất, bức tranh là một quá trình kéo dài nhiều thế kỷ, với các khu vực phát triển không cùng lúc.
Bẫy của cọc gỗ
Cọc gỗ nhà sàn là mẫu carbon-14 hấp dẫn nhưng có bẫy quen thuộc: carbon-14 đo lúc phần gỗ ấy ngừng sống. Một cọc đẽo từ lõi thân cây lớn có thể già hơn ngày dựng nhà cả trăm năm, và gỗ tốt còn có thể được tháo ra dùng lại. Người nghiên cứu vì vậy ưu tiên lớp gỗ sát vỏ, cành nhỏ hay hạt, và đọc niên đại cọc gỗ như một mốc không sớm hơn: ngôi nhà được dựng vào hoặc sau thời điểm ấy, không thể trước.
Mốc “không sớm hơn” và mốc “không muộn hơn”
Mốc không sớm hơn đến từ vật mang niên đại nằm trong lớp. Lớp không thể hình thành trước khi vật ra đời. Tiền, huy chương, chữ khắc cho loại mốc này.
Mốc không muộn hơn đến từ thứ phủ lên trên lớp, ví dụ một nền móng kiến trúc có niên đại biết được xây đè lên. Lớp bên dưới phải có trước nền móng ấy.
Kẹp giữa hai mốc là cách thu hẹp niên đại hiệu quả nhất. Một lớp có mốc không sớm hơn từ đồng tiền bên trong và mốc không muộn hơn từ công trình bên trên thì bị kẹp vào một khoảng hẹp hơn nhiều so với từng mốc riêng.
Đọc tin về một phát hiện ngoại nhập ở di chỉ cổ
Mỗi lần có tin tìm thấy đồng tiền, hạt chuỗi từ nơi xa ở một di chỉ, bạn có thể tự hỏi:
- Vật nằm trong lớp đất có ghi chép hay được thu nhặt bề mặt, mua lại.
- Mốc của vật là mốc không sớm hơn; tin có đang biến nó thành năm khởi đầu của di chỉ không.
- Có chứng cứ khác trong cùng lớp chỉ về cùng khoảng thời gian không.
- Vật quý có thể lưu truyền lâu; khoảng trễ giữa lúc đúc và lúc chôn đã được bàn tới chưa.
Câu kiểu “phát hiện chứng minh thương cảng có từ thế kỷ II” là cách nói vượt quá chứng cứ. Câu đúng hơn là lớp chứa hiện vật hình thành từ khoảng thế kỷ II trở về sau.
Câu hỏi thường gặp
Văn hoá Óc Eo tồn tại vào thời gian nào?
Tài liệu phổ thông thường ghi khoảng thế kỷ I tới thế kỷ VII Công nguyên. Đây là khoảng gộp từ nhiều di tích, đầu sớm và đầu muộn vẫn được bàn khi có thêm khai quật.
Huy chương La Mã có chứng minh người La Mã đến Óc Eo không?
Không nhất thiết. Vật quý thường đi qua nhiều chặng buôn bán trung gian qua Ấn Độ và các cảng khác. Nó chứng minh Óc Eo nằm trong mạng lưới trao đổi rộng, chưa nói ai mang tới.
Mốc không sớm hơn là gì?
Là mốc cho biết một lớp đất hay ngôi mộ không thể hình thành trước thời điểm một vật bên trong được làm ra. Nó không cho biết lớp hình thành muộn hơn mốc đó bao lâu.
Vì sao chữ khắc giúp định niên đại?
Hình dáng con chữ thay đổi theo thời gian và vùng. So nét chữ với các văn bản đã biết niên đại, người nghiên cứu xếp được chữ khắc vào một khoảng thế kỷ, thường khá rộng.
Óc Eo hiện nay thuộc tỉnh nào?
Khu di tích Óc Eo – Ba Thê nằm ở vùng Thoại Sơn, nay thuộc tỉnh An Giang theo đơn vị hành chính hiện hành.