Văn hoá Đông Sơn được định niên đại bằng cách ghép bốn nguồn: thứ tự lớp đất so với các văn hoá trước, carbon-14 trên gỗ và than, đồng tiền Trung Hoa có niên đại trong mộ muộn, và sự thay đổi kiểu dáng đồ đồng. Kết quả phổ biến là khoảng thế kỷ VII TCN tới thế kỷ I – II CN.
Con số ấy hay được đọc như một sự thật đơn giản, nhưng đằng sau là gần một thế kỷ khai quật, nhiều lần điều chỉnh và vẫn còn tranh luận ở hai đầu mút. Hiểu mỗi nguồn chứng cứ cho biết điều gì, và không cho biết điều gì, giúp bạn đọc mọi con số về Đông Sơn trên sách báo một cách tỉnh táo hơn. Bài này không kể lại đời sống người Đông Sơn, mà đi vào câu hỏi: làm sao các nhà khảo cổ biết những thứ ấy thuộc khoảng thời gian nào.
Nguồn thứ nhất: lớp đất cho biết cái gì trước, cái gì sau
Chồng lớp ở các di chỉ cư trú
Ở một số di chỉ vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ, lớp chứa đồ Đông Sơn nằm trên lớp chứa đồ kiểu Gò Mun, và lớp Gò Mun lại nằm trên lớp kiểu Đồng Đậu. Theo nguyên lý chồng chất, lớp dưới hình thành trước. Đây là nền móng của toàn bộ chuỗi niên đại: trước khi có con số, người ta đã biết thứ tự.
Địa tầng chỉ cho niên đại tương đối. Nó nói Đông Sơn muộn hơn Gò Mun, nhưng không nói muộn hơn bao nhiêu năm. Muốn có con số, phải tìm vật liệu đo được trong chính các lớp ấy.
Giới hạn của địa tầng
Đất ở đồng bằng bị cày xới, đào hố, ngập lụt qua nhiều thế kỷ. Một mảnh gốm có thể rơi từ lớp trên xuống hố đào của lớp dưới. Vì vậy người khai quật ghi kỹ ranh giới hố, màu đất, và không dựa vào một mảnh lẻ để kết luận.
Mộ táng còn khó hơn: người Đông Sơn đào huyệt xuyên qua các lớp cũ, nên quan tài nằm sâu ngang lớp Gò Mun mà vẫn là đồ Đông Sơn. Người khai quật phải tìm miệng huyệt, tức chỗ hố bắt đầu được đào, chứ không đo độ sâu của đáy quan tài. Bỏ qua chi tiết này là đọc ngược thứ tự.
Nguồn thứ hai: carbon-14 trên gỗ quan tài và than bếp
Carbon-14 là nguồn cho con số tuyệt đối. Ở Đông Sơn, vật liệu tốt nhất là gỗ quan tài hình thuyền trong các mộ thuyền ở vùng đất trũng, nơi gỗ ngâm nước nên giữ được qua hơn hai nghìn năm. Ngoài ra còn than củi trong lớp cư trú, hạt lúa cháy, xương động vật.
Các kết quả carbon-14 công bố cho mộ thuyền phần lớn rơi vào mấy thế kỷ cuối trước Công nguyên tới khoảng đầu Công nguyên, phù hợp với giai đoạn giữa và muộn của Đông Sơn. Có ba điều cần nhớ khi đọc các con số ấy.
Thứ nhất, carbon-14 đo thời điểm cây ngừng sống, không phải lúc người ta chôn quan tài. Thân cây lớn có phần lõi hình thành sớm hơn phần ngoài hàng trăm năm, nên mẫu lấy từ lõi gỗ có thể cho tuổi già hơn ngày chôn. Thứ hai, kết quả thô phải hiệu chỉnh theo đường cong quốc tế mới đổi được sang năm lịch. Ở khoảng giữa thiên niên kỷ I trước Công nguyên, đường cong có một đoạn khá phẳng, nên nhiều mẫu đo rất kỹ vẫn chỉ thu được khoảng năm lịch rộng vài trăm năm. Thứ ba, các phép đo làm từ nhiều thập niên trước có sai số lớn hơn phép đo bằng máy gia tốc hiện nay, nên số liệu cũ và mới không nên đặt ngang hàng.
Nguồn thứ ba: đồng tiền có niên đại trong mộ muộn
Một số mộ thuộc giai đoạn muộn của Đông Sơn có chôn kèm tiền đồng thời Hán, như tiền Ngũ thù, và có nơi gặp cả tiền đúc dưới thời Vương Mãng ở đầu Công nguyên. Tiền Trung Hoa thời này có thời điểm phát hành được sử sách ghi lại, nên trở thành cái mốc rất mạnh.
Đồng tiền cho một mốc “không sớm hơn”: ngôi mộ không thể được lấp trước khi loại tiền ấy ra đời. Nó không cho biết mộ được lấp bao lâu sau đó, vì tiền có thể lưu hành, cất giữ hàng chục năm. Khi đi cùng gương đồng, đồ gốm kiểu Hán trong cùng mộ, mốc này giúp khép lại đầu muộn của văn hoá Đông Sơn và cho thấy giai đoạn chuyển tiếp sang thời Bắc thuộc diễn ra từ từ chứ không đứt đoạn.
Nguồn thứ tư: kiểu dáng đồ đồng xếp theo thời gian
Khi đã có vài mốc tuyệt đối, các nhà nghiên cứu xếp hàng nghìn rìu, giáo, thạp, trống đồng theo chuỗi thay đổi kiểu dáng, rồi gán niên đại cho những hiện vật không có mẫu đo. Bảng dưới so bốn nguồn để thấy mỗi nguồn trả lời câu hỏi nào.
| Nguồn chứng cứ | Cho loại niên đại | Điểm mạnh | Điểm yếu |
|---|---|---|---|
| Địa tầng | Tương đối: trước, sau | Quan sát trực tiếp trong hố | Không cho con số; lớp có thể xáo trộn |
| Carbon-14 | Tuyệt đối, có sai số | Đo được trên gỗ, than, xương | Đo lúc sinh vật chết; cần hiệu chỉnh |
| Đồng tiền có niên đại | Mốc “không sớm hơn” | Mốc phát hành ghi trong sử sách | Chỉ có ở mộ muộn; tiền lưu hành lâu |
| Loại hình đồ đồng | Tương đối, nhờ mốc mà quy ra số | Áp dụng cho hiện vật không có mẫu | Phụ thuộc vào mốc gốc; vùng xa có thể giữ kiểu cũ lâu hơn |
Điểm yếu cuối cùng hay bị bỏ qua. Một kiểu rìu có thể được làm lâu ở vùng núi sau khi đồng bằng đã đổi kiểu. Vì vậy loại hình học dùng tốt cho một vùng đã có mốc, và kém tin cậy khi đem áp sang vùng khác.
Vì sao hai đầu mút của Đông Sơn còn bàn cãi?
Đầu sớm phụ thuộc vào định nghĩa. Ranh giới Gò Mun và Đông Sơn là sự chuyển dần của kiểu dáng gốm và đồ đồng. Người coi một số di chỉ chuyển tiếp là Đông Sơn sớm sẽ đẩy đầu mút lùi về trước; người xếp chúng vào Gò Mun muộn sẽ đặt đầu mút muộn hơn.
Đầu muộn phụ thuộc vào câu hỏi văn hoá. Đồ Đông Sơn vẫn được dùng, vẫn được chôn khi đồ Hán đã phổ biến. Kết thúc văn hoá là lúc kiểu Đông Sơn biến mất hay lúc nó thôi chiếm ưu thế, mỗi nhà nghiên cứu có thể chọn khác.
Số mẫu định tuổi chưa nhiều và phân bố không đều. Có vùng nhiều mẫu, có vùng gần như chỉ có niên đại theo kiểu dáng. Khi có thêm khai quật và đo bằng máy gia tốc, khoảng niên đại các giai đoạn còn có thể dịch chuyển.
Đọc một con số về Đông Sơn, kiểm năm điều
Gặp câu như “văn hoá Đông Sơn có niên đại khoảng 2.700 năm”, bạn có thể tự hỏi nhanh:
- Con số nói về đầu sớm, đầu muộn hay cả khoảng? Một con số đơn lẻ thường chỉ là đầu sớm đã làm tròn.
- Nó dựa vào carbon-14, đồng tiền hay kiểu dáng? Nguồn nào thì sai số kiểu ấy.
- Nếu là carbon-14, đã hiệu chỉnh sang năm lịch chưa? Tài liệu cẩn thận ghi rõ “năm cách nay đã hiệu chỉnh”.
- Mẫu lấy ở di chỉ nào, vùng nào? Một mẫu ở thung lũng sông Mã không tự động áp cho vùng sông Hồng.
- Tài liệu mới hay cũ? Sách xuất bản nhiều thập niên trước có thể dùng số liệu đã được điều chỉnh.
Giữ được năm câu này, bạn sẽ thấy phần lớn khác biệt giữa các tài liệu không phải mâu thuẫn, mà là hai người đang đo hai thứ khác nhau.
Câu hỏi thường gặp
Văn hoá Đông Sơn cách đây bao nhiêu năm?
Theo tài liệu phổ thông, khoảng từ thế kỷ VII trước Công nguyên tới khoảng thế kỷ I – II Công nguyên, tức khoảng 2.700 tới 1.900 năm cách ngày nay. Hai đầu mút vẫn còn được bàn.
Vì sao gỗ quan tài mộ thuyền giữ được tới nay?
Phần lớn mộ thuyền nằm ở vùng đất trũng, gỗ bị ngâm trong bùn và nước ngầm, thiếu oxy nên vi sinh vật phân huỷ rất chậm. Nhờ đó còn vật liệu hữu cơ để định tuổi carbon-14.
Đồng tiền trong mộ giúp định niên đại thế nào?
Tiền có thời điểm phát hành được ghi trong sử sách, nên ngôi mộ chứa nó không thể sớm hơn mốc đó. Tiền không cho biết mộ muộn hơn bao lâu, vì người xưa có thể giữ tiền nhiều năm.
Trống đồng có được định tuổi carbon-14 trực tiếp không?
Không, vì đồng thau không chứa carbon hữu cơ. Niên đại trống dựa vào bối cảnh tìm thấy, đồ đi kèm, mẫu than hay gỗ cùng lớp và so sánh kiểu dáng hoa văn.
Định tuổi bằng máy gia tốc khác phương pháp cũ ở điểm nào?
Máy gia tốc đếm trực tiếp nguyên tử carbon-14 nên chỉ cần lượng mẫu rất nhỏ và cho sai số thường hẹp hơn. Phương pháp cũ đếm phân rã, cần nhiều mẫu và tốn thời gian hơn.
Đông Sơn có phải kết thúc khi bắt đầu thời Bắc thuộc không?
Không có ngày kết thúc rõ. Đồ Đông Sơn còn được dùng và chôn cùng đồ Hán một thời gian dài, nên giai đoạn cuối là sự chuyển tiếp từ từ, không phải một đường cắt.