Một năm thuộc thế kỷ thứ n khi nằm từ năm (n − 1) × 100 + 1 tới năm n × 100. Vì vậy thế kỷ XXI chạy từ năm 2001 tới năm 2100, thế kỷ X chạy từ năm 901 tới năm 1000. Với năm trước Công nguyên, quy tắc giữ nguyên nhưng đếm ngược.
Câu hỏi “năm 1945 thuộc thế kỷ nào” có trong rất nhiều đề kiểm tra Lịch sử lớp 6, và vẫn làm không ít người lớn lúng túng khi gặp các năm tròn trăm như 1800 hay 2000. Bài này đưa ra một quy tắc duy nhất dùng được cho mọi trường hợp, kèm cách đọc thiên niên kỷ, thập niên và những cụm từ mô tả mơ hồ như “nửa sau thế kỷ”.
Vì sao thế kỷ bắt đầu bằng năm có đuôi 01?
Lý do nằm ở chỗ lịch Công nguyên không có năm 0. Năm đầu tiên là năm 1, nên một trăm năm đầu tiên chạy từ năm 1 tới năm 100. Đó là thế kỷ I. Thế kỷ II bắt đầu từ năm 101, thế kỷ III từ năm 201, và cứ thế. Các năm tròn trăm như 100, 1000, 2000 là năm cuối của thế kỷ, không phải năm đầu.
Trong đời sống, người ta hay ăn mừng bước sang thế kỷ mới vào năm có hai số 0 ở cuối, vì nó đẹp mắt. Cách nói ấy phổ biến và dễ thông cảm. Nhưng trong bài làm và trong tài liệu chính thức, thế kỷ XXI và thiên niên kỷ thứ ba đều bắt đầu từ năm 2001.
Nếu bạn thích công thức hơn mẹo nhẩm, có thể viết: thế kỷ của năm N là phần nguyên của (N − 1) chia 100, cộng thêm một. Với N = 2000, (2000 − 1) : 100 được 19 phần nguyên, cộng một là 20. Với N = 2001, được 20 phần nguyên, cộng một là 21. Công thức này cho cùng kết quả với mẹo bỏ hai chữ số cuối, và tiện khi cần dùng trong bảng tính.
Quy tắc đổi năm sang thế kỷ
Một mẹo nhẩm ngắn gọn dùng được cho mọi năm, không cần chia.
Với năm sau Công nguyên
Bỏ hai chữ số cuối rồi cộng một, trừ khi hai chữ số cuối là 00. Năm 1945: bỏ 45 còn 19, cộng một là 20, vậy thuộc thế kỷ XX. Năm 1010: bỏ 10 còn 10, cộng một là 11, thuộc thế kỷ XI. Năm 1800: hai chữ số cuối là 00 nên không cộng, thuộc thế kỷ XVIII.
Với năm trước Công nguyên
Làm y hệt rồi gắn thêm chữ “trước Công nguyên”. Năm 111 TCN thuộc thế kỷ II TCN; năm 300 TCN thuộc thế kỷ III TCN; năm 50 TCN thuộc thế kỷ I TCN. Điều khác duy nhất là chiều thời gian: thế kỷ II TCN chạy từ năm 200 TCN “xuôi” tới năm 101 TCN, nên đầu thế kỷ II TCN là năm 200 TCN, cuối thế kỷ là năm 101 TCN.
Với số dưới 100
Năm 40 sau Công nguyên thuộc thế kỷ I. Năm 79 cũng vậy. Bạn có thể coi chúng là năm 0040, 0079, bỏ hai chữ số cuối còn 0, cộng một là 1.
Bảng đối chiếu nhanh
Một số năm hay gặp trong chương trình phổ thông và thế kỷ tương ứng, kể cả các năm giáp ranh dễ nhầm.
| Năm | Thế kỷ | Vị trí trong thế kỷ | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Năm 2000 | XX | Năm cuối cùng | Không phải năm đầu thế kỷ XXI |
| Năm 2001 | XXI | Năm đầu tiên | Cũng là năm đầu thiên niên kỷ thứ ba |
| Năm 1945 | XX | Giữa thế kỷ | Nửa đầu kết thúc ở năm 1950 |
| Năm 938 | X | Cuối thế kỷ | Thế kỷ X chạy từ năm 901 tới năm 1000 |
| Năm 1 TCN | I TCN | Năm cuối cùng | Năm liền sau là năm 1 Công nguyên |
| Năm 179 TCN | II TCN | Gần đầu thế kỷ | Thế kỷ II TCN bắt đầu từ năm 200 TCN |
Cột vị trí là chỗ hay nhầm với năm trước Công nguyên: con số càng lớn thì càng gần đầu thế kỷ, vì thời gian chạy từ số lớn về số nhỏ.
Thiên niên kỷ và thập niên đọc thế nào?
Thiên niên kỷ là khoảng một nghìn năm, tính theo cùng nguyên tắc với thế kỷ. Thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên chạy từ năm 1 tới năm 1000, thiên niên kỷ thứ hai từ 1001 tới 2000, thiên niên kỷ thứ ba bắt đầu từ năm 2001. Với trước Công nguyên, thiên niên kỷ I TCN là từ năm 1000 TCN tới năm 1 TCN, thiên niên kỷ II TCN từ năm 2000 TCN tới năm 1001 TCN. Tài liệu khảo cổ hay dùng cách nói này cho các nền văn hoá có niên đại rộng, ví dụ một nền văn hoá kéo dài từ cuối thiên niên kỷ II tới giữa thiên niên kỷ I trước Công nguyên.
Thập niên thì khác. Trong tiếng Việt, “thập niên 1960” hay “những năm 1960” thường hiểu là từ 1960 tới 1969, theo hàng chục chung chứ không theo kiểu bắt đầu bằng đuôi 1. Đây là quy ước của lời nói, không mâu thuẫn với cách tính thế kỷ. Cách viết “thập niên thứ bảy của thế kỷ XX” theo lối đếm thứ tự thì ít gặp và dễ gây nhầm, nên nếu cần chính xác, hãy ghi thẳng khoảng năm.
Số La Mã: viết và đọc cho đúng
Sách Lịch sử ở Việt Nam quen ghi thế kỷ bằng số La Mã: I, V, X, L (50), C (100). Quy tắc chính là ký hiệu nhỏ đứng trước ký hiệu lớn thì trừ, đứng sau thì cộng. IV là 4, VI là 6, IX là 9, XI là 11, XIX là 19, XXI là 21. Một ký hiệu không lặp quá ba lần liên tiếp, nên 4 viết là IV chứ không viết IIII, 40 là XL chứ không phải XXXX.
Khi gõ trên máy tính, dùng chữ in hoa I, V, X thông thường. Lỗi hay gặp là gõ số 1 hoặc chữ l thường thay cho I, khiến bài trông lộn xộn và công cụ tìm kiếm không nhận ra. Viết “thế kỷ 20” bằng số Ả Rập cũng không sai, nhiều báo dùng cách này; điều quan trọng là thống nhất trong cùng một bài.
Đầu, giữa, cuối thế kỷ: những cụm từ mơ hồ
Đầu thế kỷ. Thường chỉ khoảng hai, ba thập niên đầu. Không có ranh giới chính thức, nên đừng đổi “đầu thế kỷ XVII” thành một năm cụ thể.
Giữa thế kỷ. Thường quanh các năm có đuôi 40 đến 60. Với thế kỷ trước Công nguyên, giữa thế kỷ III TCN là quanh năm 250 TCN.
Nửa đầu, nửa sau. Chia đôi trăm năm: nửa đầu thế kỷ XIX là từ 1801 tới 1850, nửa sau là từ 1851 tới 1900.
Cuối thế kỷ. Thường chỉ hai, ba thập niên cuối. Với trước Công nguyên, cuối thế kỷ II TCN là những năm có số nhỏ, gần năm 101 TCN.
Lỗi hay gặp trong bài kiểm tra
Giáo viên chấm bài Lịch sử lớp 6, lớp 7 thường gặp lại cùng một nhóm lỗi:
- Cho năm 1900 thuộc thế kỷ XX vì “bỏ hai số cuối rồi cộng một” mà quên ngoại lệ đuôi 00.
- Viết năm 50 TCN thuộc thế kỷ I Công nguyên vì bỏ mất chữ trước Công nguyên.
- Đảo đầu cuối với thế kỷ trước Công nguyên, cho rằng năm 199 TCN ở cuối thế kỷ II TCN.
- Viết số La Mã sai như IIX cho 8 hay VV cho 10.
- Coi “những năm 1960” và “thế kỷ XX” là hai cách đếm mâu thuẫn nhau.
Một bài tập hữu ích là cho học sinh xếp mười năm trộn lẫn cả trước và sau Công nguyên vào đúng thế kỷ, rồi tự giải thích hai năm khó nhất. Lỗi nào lộ ra sẽ lộ ngay ở bước giải thích.
Câu hỏi thường gặp
Năm 2000 thuộc thế kỷ XX hay XXI?
Năm 2000 là năm cuối cùng của thế kỷ XX. Thế kỷ XXI bắt đầu từ năm 2001 và kết thúc năm 2100, vì lịch Công nguyên không có năm 0.
Năm 111 TCN thuộc thế kỷ nào?
Năm 111 trước Công nguyên thuộc thế kỷ II trước Công nguyên, gần cuối thế kỷ đó. Thế kỷ II TCN chạy từ năm 200 TCN tới năm 101 TCN.
Thiên niên kỷ thứ ba bắt đầu năm nào?
Thiên niên kỷ thứ ba bắt đầu từ năm 2001, theo cùng nguyên tắc với thế kỷ. Nhiều nơi tổ chức kỷ niệm vào năm 2000, nhưng đó là cách nói của đời sống.
Thập niên 1990 gồm những năm nào?
Theo cách nói thông dụng trong tiếng Việt, thập niên 1990 hay những năm 1990 là từ năm 1990 tới năm 1999, theo hàng chục chung.
Có bắt buộc viết thế kỷ bằng số La Mã không?
Không bắt buộc. Sách giáo khoa quen dùng số La Mã, nhiều báo dùng số Ả Rập. Điều quan trọng là viết đúng và thống nhất trong một bài.