Niên đại tương đối trả lời câu hỏi “cái nào trước, cái nào sau”, không cần con số năm. Niên đại tuyệt đối trả lời “cách nay khoảng bao lâu”, bằng một con số năm kèm sai số. Hai loại bổ sung cho nhau, không loại nào thay được loại kia.
Khi đọc một dòng như “lớp đất này có niên đại khoảng 3.000 năm cách nay”, nhiều người hình dung có ai đó cầm một chiếc đồng hồ đo thẳng ra con số ấy. Thực tế con số đó thường là điểm cuối của một chuỗi suy luận dài, trong đó phần lớn công việc là xếp thứ tự trước sau. Hiểu hai loại niên đại khác nhau thế nào giúp bạn đọc tài liệu khảo cổ, địa chất, sách Lịch sử bằng con mắt tỉnh táo hơn: biết con số nào chắc, con số nào chỉ là ước lượng, và vì sao các nhà nghiên cứu hay sửa niên đại khi có dữ liệu mới.
Niên đại tương đối là gì?
Niên đại tương đối là việc đặt các sự kiện, các lớp đất hay các hiện vật vào một trật tự thời gian: A có trước B, B có trước C. Nó không nói A cách nay bao nhiêu năm, chỉ nói A cũ hơn B.
Ví dụ dễ thấy nhất là một vách đất có nhiều lớp chồng lên nhau. Nếu không bị xáo trộn, lớp nằm dưới được bồi tụ trước, lớp nằm trên được bồi tụ sau. Đó là nguyên lý chồng chất mà các nhà địa chất dùng từ thế kỷ XVII. Một con đường cắt ngang qua ba lớp đất thì con đường ấy phải có sau cả ba lớp. Một mảnh gốm nằm kẹt trong lớp thứ hai thì mảnh gốm ấy bị vùi không muộn hơn lúc lớp thứ nhất phủ lên.
Niên đại tương đối còn đến từ việc so kiểu dáng. Đồ gốm, công cụ đá, kiểu chữ, kiểu mái nhà thay đổi dần theo thời gian. Khi đã biết trình tự thay đổi ở một nơi, người ta có thể xếp một hiện vật mới vào đúng chỗ của nó trong trình tự ấy, dù chưa biết năm.
Niên đại tuyệt đối là gì và vì sao vẫn có sai số?
Niên đại tuyệt đối là niên đại được biểu diễn bằng một con số trên thang thời gian chung: năm theo Công nguyên, số năm trước hiện tại, số triệu năm trước. Chữ “tuyệt đối” dễ gây hiểu lầm, vì nó không có nghĩa là tuyệt đối chính xác. Nó chỉ có nghĩa là con số được neo vào một thang đo chung mà ai cũng quy đổi được.
Con số tuyệt đối có thể đến từ văn bản (một tấm bia khắc niên hiệu và năm), từ đếm lớp theo năm (vòng cây, lớp băng, lớp trầm tích hồ), hay từ đồng hồ tự nhiên như sự phân rã của đồng vị phóng xạ. Mỗi nguồn có giới hạn riêng. Văn bản có thể ghi sai hoặc được khắc sau sự kiện; đếm lớp có thể sót lớp; đồng hồ phóng xạ luôn đi kèm sai số đo đạc. Vì vậy một niên đại tuyệt đối viết đúng cách luôn có phần “±” hoặc một khoảng, chẳng hạn khoảng thế kỷ III đến thế kỷ I trước Công nguyên.
Điều cần nhớ: sai số không phải dấu hiệu của làm ẩu. Một con số không kèm sai số mới là con số đáng nghi.
Hai loại niên đại đặt cạnh nhau
Bảng dưới gom những điểm khác nhau chính, đủ để bạn nhận ra một tài liệu đang dùng loại nào.
| Tiêu chí | Niên đại tương đối | Niên đại tuyệt đối |
|---|---|---|
| Câu hỏi trả lời | Cái nào có trước, cái nào có sau | Cách nay khoảng bao lâu |
| Cách biểu diễn | Trật tự: sớm hơn, muộn hơn, đồng thời | Con số năm kèm sai số hoặc một khoảng |
| Công cụ thường gặp | Địa tầng, so kiểu dáng hiện vật, hoá thạch chỉ thị | Văn bản có năm, đếm lớp theo năm, đồng vị phóng xạ, phát quang |
| Cần phòng thí nghiệm không | Thường không, làm được tại hiện trường | Thường cần, trừ khi có văn bản ghi năm |
| Điểm yếu | Không cho biết khoảng cách thời gian giữa các bước | Phụ thuộc chất lượng mẫu và giả định của phương pháp |
| Ví dụ câu viết | Lớp gốm thô nằm dưới lớp gốm có hoa văn khắc vạch | Than trong lớp đó có niên đại khoảng 2.800 ± 60 năm trước hiện tại |
Bạn để ý dòng cuối: hai câu viết ấy thường xuất hiện trong cùng một báo cáo, câu này dựa vào câu kia.
Vì sao người nghiên cứu luôn dùng cả hai?
Nhìn vào cách các báo cáo khoa học được viết, bạn sẽ thấy hai loại niên đại đan vào nhau ở mọi bước.
Con số tuyệt đối cần một bối cảnh tương đối
Một mẫu than được định tuổi cho ra con số rất đẹp, nhưng con số ấy chỉ có ý nghĩa khi biết mẫu than nằm ở lớp nào, lớp ấy liên quan thế nào với hiện vật cần tìm tuổi. Nếu không ghi lại vị trí trong địa tầng, con số đó gần như vô dụng. Đây là lý do khai quật khảo cổ tốn nhiều thời gian cho việc vẽ mặt cắt, ghi độ sâu, đánh số từng lớp.
Trật tự tương đối cần vài con số để căng ra
Ngược lại, một trình tự mười lớp đất chỉ cho biết lớp nào trước lớp nào. Muốn biết cả trình tự kéo dài vài trăm hay vài nghìn năm, phải có ít nhất vài điểm neo tuyệt đối. Giữa hai điểm neo, các lớp còn lại được nội suy, và sai số tăng dần khi đi xa điểm neo.
Hai loại kiểm tra chéo nhau
Khi ba mẫu lấy từ ba lớp chồng nhau cho ra ba con số mà lớp trên lại già hơn lớp dưới, người nghiên cứu biết có chuyện: mẫu bị nhiễm bẩn, lớp đất bị đảo lộn, hoặc vật liệu bị đưa từ nơi khác đến. Chính trật tự tương đối là công cụ phát hiện con số tuyệt đối sai.
Một tình huống: phát hiện ở hai lớp đất
Hình dung một hố khai quật ở một gò đất ven sông. Lớp dưới cùng có công cụ đá mài, lớp giữa có mảnh gốm và vài mảnh đồng, lớp trên có gạch nung. Chưa cần phòng thí nghiệm, đoàn khai quật đã có một niên đại tương đối: cư dân dùng đá mài sống ở đây trước, người biết luyện đồng đến sau, rồi mới đến lúc dựng nhà gạch.
Sau đó, một ít than củi trong lớp giữa được gửi đi định tuổi carbon-14. Kết quả cho một khoảng vài thế kỷ. Nhờ trật tự đã có, con số này lập tức giúp ước lượng rằng lớp dưới cũ hơn khoảng ấy, lớp trên trẻ hơn. Nếu sau này một đồng tiền có niên hiệu được tìm thấy trong lớp trên, đồng tiền đó cho thêm một điểm neo nữa. Mỗi bằng chứng mới thu hẹp dần khoảng thời gian.
Bạn thấy rằng không có một khoảnh khắc nào ai đó “đo ra tuổi” của cả gò đất. Niên đại hình thành từ nhiều mảnh ghép, mỗi mảnh có độ tin cậy riêng.
Những hiểu lầm hay gặp khi đọc hai loại niên đại
Nghĩ “tuyệt đối” là không thể sai. Niên đại tuyệt đối vẫn có sai số và vẫn có thể bị sửa khi phương pháp hiệu chỉnh tốt hơn hoặc có mẫu mới.
Nghĩ niên đại tương đối là kém khoa học. Trật tự trước sau là nền móng; nhiều kết luận lớn về lịch sử Trái Đất được rút ra từ địa tầng trước khi có đồng hồ phóng xạ.
Gắn con số của mẫu cho cả di chỉ. Một mẫu than chỉ cho tuổi của cái cây đã cháy thành than ấy, không tự động là tuổi của mọi hiện vật cùng hố.
Bỏ qua chữ “khoảng”. Khi tài liệu ghi “khoảng”, con số chỉ là trung tâm của một khoảng; chép lại thành con số trơn là làm mất thông tin.
Tự kiểm khi gặp một niên đại trong sách hay báo
Năm câu hỏi ngắn giúp bạn biết con số mình đang đọc thuộc loại nào và chắc tới đâu:
- Đây là trật tự trước sau hay là một con số năm?
- Nếu là con số, nó đến từ văn bản, từ đếm lớp hay từ phòng thí nghiệm?
- Con số có kèm sai số hoặc khoảng không, hay bị viết trơn?
- Niên đại ấy là của mẫu nào, và mẫu đó liên quan thế nào với điều đang được nói tới?
- Có điểm neo nào khác (lớp trên, lớp dưới, hiện vật cùng lớp) cho kết quả khớp hay không?
Trả lời được ba câu đầu là bạn đã đọc hiểu hơn phần lớn những dòng tít về “phát hiện hàng nghìn năm tuổi”.
Câu hỏi thường gặp
Niên đại tuyệt đối có nghĩa là chính xác tuyệt đối không?
Không. Chữ tuyệt đối chỉ có nghĩa là niên đại được ghi bằng con số trên một thang thời gian chung. Con số ấy vẫn có sai số và có thể được điều chỉnh khi có mẫu hoặc phương pháp tốt hơn.
Niên đại tương đối có dùng được trong nghiên cứu không?
Có, và rất thường xuyên. Trật tự trước sau từ địa tầng hay kiểu dáng hiện vật là nền để đặt các con số tuyệt đối vào, đồng thời giúp phát hiện con số sai.
Có phải niên đại tương đối luôn có trước niên đại tuyệt đối?
Thường là vậy trong thực tế khai quật: trật tự lớp được ghi lại tại hiện trường, mẫu gửi định tuổi sau. Nhưng hai loại được dùng xen kẽ suốt quá trình nghiên cứu.
Văn bia ghi năm có phải là niên đại tuyệt đối không?
Có, nếu quy đổi được năm ghi trên bia sang thang Công nguyên. Tuy vậy, năm khắc bia có thể muộn hơn sự kiện được kể, nên vẫn phải đối chiếu.
Học sinh nên nhớ điểm khác nhau chính là gì?
Tương đối trả lời câu hỏi cái nào trước cái nào sau; tuyệt đối trả lời câu hỏi cách nay khoảng bao lâu và luôn đi kèm sai số.