Mộ chum Sa Huỳnh được định niên đại chủ yếu nhờ những thứ chôn trong chum: than, xương, vỏ hạt đo carbon-14, đồ sắt cho biết đã vào thời đồ sắt, hạt chuỗi mã não và thuỷ tinh so với nơi sản xuất, cùng chuỗi đổi kiểu chum. Giai đoạn điển hình thường ghi khoảng thế kỷ V TCN tới thế kỷ I – II CN.
Những khu mộ chum trên cồn cát ven biển miền Trung là hình ảnh quen thuộc của văn hoá Sa Huỳnh. Chum lớn, nắp hình nón úp, bên trong có đồ gốm nhỏ, công cụ sắt, đồ trang sức. Câu hỏi bao nhiêu tuổi nghe đơn giản, nhưng mộ trong cồn cát là một trong những bối cảnh khó định niên đại nhất. Bài này đi qua từng nguồn chứng cứ, vì sao mỗi nguồn có giới hạn, và vì sao các tài liệu ghi khoảng niên đại khác nhau tuỳ cách họ khoanh vùng Sa Huỳnh.
Vì sao mộ trong cồn cát khó định niên đại?
Cát không giữ lớp
Ở đồng bằng phù sa, các lớp đất có màu, độ chặt khác nhau nên ranh giới khá rõ. Cát ven biển thì đồng nhất, bị gió thổi, mưa rửa, liên tục dịch chuyển. Miệng huyệt đào xuống cát thường mờ đi rất nhanh, nên khó biết mộ được đào từ mặt cồn ở độ cao nào, và chum nào chôn trước chum nào.
Xương ít còn
Môi trường cát thoáng, mưa nhiều làm xương phân huỷ mạnh. Nhiều chum chỉ còn vài mảnh xương vụn hoặc không còn gì. Xương lại thường là mẫu carbon-14 gắn trực tiếp nhất với người được chôn, nên thiếu xương là thiếu nguồn tốt.
Mộ chôn lẫn qua nhiều thế hệ
Một khu mộ được dùng nhiều thế kỷ. Chum muộn có thể được đặt sát, thậm chí đào cắt vào chum sớm. Nếu không ghi chép từng chum riêng, đồ của hai thời dễ bị gộp chung.
Carbon-14 trong chum: chọn mẫu nào?
Mẫu tốt nhất là vật liệu sống ngắn ngày nằm chắc trong lòng chum: hạt lúa, vỏ trấu, mảnh xương, sợi vải còn bám vào đồ kim loại. Than vụn trong chum cũng được dùng, nhưng cần cân nhắc vì than có thể theo cát lọt vào từ bên ngoài khi chum nứt.
Với vỏ sò, vỏ ốc biển trong chum, người nghiên cứu phải tính hiệu ứng nguồn chứa biển, vì sinh vật biển cho tuổi carbon-14 già hơn sinh vật trên cạn cùng thời. Bỏ qua điều này, niên đại một chum có thể bị đẩy sớm thêm vài trăm năm.
Chính chiếc chum gốm về nguyên lý có thể đo bằng phát quang nhiệt để biết lần nung, nhưng phép đo này đòi hỏi biết liều phóng xạ của môi trường chôn, mà cát ven biển có thể chứa khoáng vật phóng xạ không đều. Sai số vì vậy thường lớn hơn carbon-14 tốt.
Đồ chôn theo cho biết gì về thời gian?
Đồ tuỳ táng không có năm ghi sẵn, nhưng mỗi loại đặt ra một giới hạn. Bảng dưới gom những loại thường gặp trong mộ chum Sa Huỳnh.
| Đồ chôn theo | Cho biết | Giới hạn |
|---|---|---|
| Công cụ, vũ khí sắt | Mộ thuộc thời đồ sắt, muộn hơn giai đoạn chỉ có đồng | Thời điểm sắt đến mỗi vùng không giống nhau |
| Hạt chuỗi mã não, carnelian | Liên hệ với vùng sản xuất ở Nam Á; so kiểu với nơi đã có niên đại | Hạt quý được giữ, trao tay nhiều đời |
| Hạt chuỗi thuỷ tinh | Thành phần thuỷ tinh đổi theo thời kỳ và lò | Cần phân tích hoá học, so với cơ sở dữ liệu khu vực |
| Khuyên tai hai đầu thú, khuyên ba mấu | Kiểu trang sức tiêu biểu cho giai đoạn Sa Huỳnh phát triển | Kiểu dáng có thể kéo dài |
| Gương, tiền, đồ gốm kiểu Hán | Mốc không sớm hơn cho một số mộ muộn | Chỉ có ở số ít mộ |
Không dòng nào trong bảng cho một năm cụ thể. Sức mạnh nằm ở chỗ chúng giao nhau: một chum có đồ sắt, hạt thuỷ tinh loại nhất định và mẫu xương đo được thì khoảng thời gian bị kẹp lại khá chặt.
Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh: vì sao con số vênh nhau?
Trước giai đoạn mộ chum với đồ sắt phát triển, vùng ven biển miền Trung đã có những di tích mà giới nghiên cứu gọi là tiền Sa Huỳnh, thuộc thời đồ đồng, có niên đại sớm hơn nhiều, thường được đặt vào khoảng cuối thiên niên kỷ II và đầu thiên niên kỷ I trước Công nguyên. Tài liệu nào gộp giai đoạn này vào văn hoá Sa Huỳnh theo nghĩa rộng sẽ ghi đầu sớm lùi xa; tài liệu nào chỉ tính giai đoạn điển hình sẽ ghi khoảng thế kỷ V trước Công nguyên trở đi.
Đầu muộn cũng có hai cách đặt. Một số tác giả kết thúc Sa Huỳnh quanh đầu Công nguyên, số khác kéo tới thế kỷ II, dựa trên những mộ muộn có đồ Hán. Vì vậy khi thấy hai khoảng khác nhau, câu đầu tiên nên hỏi là mỗi tài liệu đang gọi cái gì là Sa Huỳnh.
Đổi kiểu chum: chuỗi thời gian từ gốm
Hình dáng chum thay đổi giữa các khu mộ và các giai đoạn: chum hình trụ, chum hình trứng, nồi lớn dùng làm quan tài. Người nghiên cứu xếp các khu mộ theo tỷ lệ từng dáng chum.
Nắp chum có dáng nón cao, nón thấp, dáng lồng bàn. Nắp hay được dùng để so sánh vì thường còn nguyên hơn thân.
Đồ gốm nhỏ chôn theo như nồi, bát, đèn, có trang trí khắc vạch tô màu, thay đổi qua thời gian và giúp nối các khu mộ không có mẫu carbon-14 với các khu mộ đã đo.
Giới hạn chung là cách xếp chuỗi theo gốm chỉ cho thứ tự; nó chỉ có năm khi được neo vào các khu mộ đã có carbon-14 hoặc đồ có niên đại.
Một tình huống khi so hai khu mộ
Một nhóm nghiên cứu có hai khu mộ chum cách nhau không xa. Khu thứ nhất có ba kết quả carbon-14 từ hạt lúa và xương trong chum, cùng rơi vào khoảng vài thế kỷ cuối trước Công nguyên. Khu thứ hai chỉ có một kết quả từ vỏ sò trong chum, sớm hơn khu thứ nhất gần năm trăm năm. Câu hỏi đặt ra: khu thứ hai có thật sự sớm hơn không?
Trước khi kết luận, nhóm làm ba việc. Họ so kiểu chum và nắp: hai khu gần như giống nhau. Họ so đồ chôn theo: cả hai đều có đồ sắt và hạt thuỷ tinh cùng loại. Rồi họ tính lại kết quả vỏ sò theo hiệu ứng nguồn chứa biển, khoảng chênh thu hẹp đáng kể. Kết luận hợp lý là hai khu có thể cùng thời, và cần thêm mẫu trên cạn cho khu thứ hai. Một kết quả đơn lẻ từ vỏ biển chưa đủ để viết lại thứ tự.
Khi đọc về một khu mộ chum mới phát hiện
Các khu mộ chum hay lộ ra khi làm đường, đào móng trên cồn cát ven biển. Đọc tin, bạn có thể dò nhanh:
- Khu mộ được khai quật bài bản hay chỉ thu gom sau khi bị đào lộ.
- Niên đại nêu trong tin dựa vào kiểu chum, đồ sắt hay đã có mẫu đo.
- Mẫu đo là xương, hạt, than hay vỏ biển; vỏ biển đã được hiệu chỉnh chưa.
- Tin đang nói Sa Huỳnh theo nghĩa rộng hay giai đoạn điển hình.
Gặp chum lộ ra khi làm đất, việc đúng là dừng đào, giữ nguyên hiện trường và báo cho Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan văn hoá. Cổ vật dưới đất thuộc sở hữu toàn dân theo luật di sản, và bối cảnh chỉ có giá trị khi người chuyên môn ghi chép tại chỗ.
Câu hỏi thường gặp
Văn hoá Sa Huỳnh cách đây bao nhiêu năm?
Giai đoạn điển hình thường được ghi khoảng thế kỷ V trước Công nguyên tới thế kỷ I – II Công nguyên. Nếu tính cả giai đoạn tiền Sa Huỳnh thì đầu sớm lùi về cuối thiên niên kỷ II trước Công nguyên.
Vì sao xương trong mộ chum thường không còn?
Cát ven biển thoáng, thấm nước mưa và có tính chất làm xương phân huỷ nhanh. Nhiều chum chỉ còn mảnh vụn hoặc không còn xương, khiến việc lấy mẫu định tuổi khó hơn.
Hạt chuỗi mã não giúp định niên đại thế nào?
Kiểu hạt và kỹ thuật chế tác có thể so với nơi sản xuất ở Nam Á đã biết niên đại. Vì hạt quý được giữ lâu, chúng cho mốc tham khảo hơn là năm chôn.
Vỏ sò trong chum có định tuổi được không?
Được, nhưng sinh vật biển cho tuổi carbon-14 già hơn sinh vật trên cạn cùng thời. Kết quả phải hiệu chỉnh theo hiệu ứng nguồn chứa biển mới so được với mẫu than hay xương.
Tiền Sa Huỳnh là gì?
Là tên gọi các di tích thời đồ đồng ven biển miền Trung có trước giai đoạn mộ chum với đồ sắt phát triển, được nhiều nhà nghiên cứu coi là nền tảng sớm của văn hoá Sa Huỳnh.