Lịch Cộng hoà Pháp là hệ lịch nước Pháp dùng chính thức từ cuối năm 1793 đến hết năm 1805: mỗi năm 12 tháng 30 ngày cộng năm hoặc sáu ngày bổ sung, tuần dài mười ngày, năm I bắt đầu ngày 22 tháng 9 năm 1792. Ngày 9 Thermidor năm II là 27 tháng 7 năm 1794.
Ai đọc sử Cách mạng Pháp, đọc tiểu thuyết Pháp thế kỷ XIX hay sách về Napoléon đều gặp những ngày như “18 Brumaire”. Biết cấu trúc hệ lịch này, bạn đổi được ngày, hiểu được tên gọi, và thấy rõ một điều ít ai để ý: lịch là thứ con người có thể thiết kế lại, nhưng không dễ bắt cả xã hội dùng.
Lịch này ra đời để làm gì?
Những người làm cách mạng muốn một hệ lịch tách khỏi các ngày lễ tôn giáo và mang tinh thần duy lý, thập phân giống hệ mét đang được xây dựng cùng thời. Họ lấy ngày tuyên bố nền cộng hoà, cũng là ngày thu phân năm 1792, làm ngày đầu năm I. Lịch được Quốc ước thông qua vào mùa thu năm 1793, nghĩa là năm I được tính lùi lại từ trước khi lịch ra đời.
Thay cho tên các vị thánh gắn với mỗi ngày trong lịch cũ, mỗi ngày trong lịch mới được gắn tên một loài cây, một con vật hoặc một nông cụ. Đây là một thí nghiệm văn hoá lớn: tên tháng và tên ngày được chọn để người dân nông thôn nhận ra nhịp mùa vụ của chính mình.
Mười hai tháng: tên gọi, nghĩa và khoảng dương lịch
Mỗi tháng bắt đầu vào khoảng ngày 19 đến 23 của một tháng dương lịch, tuỳ năm. Cột cuối chỉ là khoảng gần đúng để định hướng, không dùng thay bảng quy đổi.
| Tháng | Nghĩa của tên | Mùa | Bắt đầu khoảng |
|---|---|---|---|
| Vendémiaire | tháng hái nho | Thu | cuối tháng 9 |
| Brumaire | tháng sương mù | Thu | cuối tháng 10 |
| Frimaire | tháng sương giá | Thu | cuối tháng 11 |
| Nivôse | tháng tuyết | Đông | cuối tháng 12 |
| Pluviôse | tháng mưa | Đông | cuối tháng 1 |
| Ventôse | tháng gió | Đông | cuối tháng 2 |
| Germinal | tháng nảy mầm | Xuân | cuối tháng 3 |
| Floréal | tháng hoa | Xuân | cuối tháng 4 |
| Prairial | tháng đồng cỏ | Xuân | cuối tháng 5 |
| Messidor | tháng gặt | Hạ | cuối tháng 6 |
| Thermidor | tháng nóng | Hạ | cuối tháng 7 |
| Fructidor | tháng quả chín | Hạ | cuối tháng 8 |
Các tên tháng cùng mùa có đuôi giống nhau trong tiếng Pháp, nên người quen tiếng Pháp chỉ nghe đuôi là biết mùa. Sau tháng Fructidor là năm ngày bổ sung, năm nhuận thì sáu ngày, để khép năm lại trước thu phân.
Cấu trúc trong tháng và trong ngày
Tuần mười ngày
Mỗi tháng chia thành ba tuần, mỗi tuần mười ngày, gọi là décade. Ngày nghỉ là ngày thứ mười. So với tuần bảy ngày có một ngày nghỉ, người lao động được nghỉ thưa hơn, và đây là một trong những lý do hệ lịch không được lòng dân.
Giờ thập phân
Trong một thời gian ngắn, nhà nước còn thử chia ngày thành mười giờ, mỗi giờ một trăm phút. Đồng hồ thập phân được chế tạo, nhưng việc bắt buộc dùng giờ thập phân bị bỏ chỉ sau khoảng hơn một năm. Lịch mười hai tháng thì tồn tại lâu hơn.
Năm nhuận theo thu phân
Năm mới bắt đầu đúng ngày thu phân quan sát ở Paris, nên năm nhuận không theo một quy tắc chia hết đơn giản mà tuỳ thời điểm thu phân. Điều này khiến việc quy đổi phải tra bảng, không thể chỉ cộng một con số cố định cho mọi năm.
Quy đổi những ngày nổi tiếng
Các ngày dưới đây xuất hiện nhiều trong sách sử phổ thông. Tên sự kiện thường gắn luôn với ngày theo lịch Cộng hoà.
| Ngày theo lịch Cộng hoà | Ngày dương lịch | Sự kiện |
|---|---|---|
| 1 Vendémiaire năm I | 22/9/1792 | Ngày đầu tiên của hệ lịch, tính lùi |
| 9 Thermidor năm II | 27/7/1794 | Robespierre bị lật đổ |
| 18 Brumaire năm VIII | 9/11/1799 | Napoléon Bonaparte đảo chính, lập chế độ Tổng tài |
Muốn đổi một ngày khác, hãy tìm bảng đối chiếu theo từng năm của lịch Cộng hoà. Vì đầu tháng xê dịch một ngày giữa các năm, phép tính nhẩm chỉ cho kết quả gần đúng.
Vì sao hệ lịch bị bỏ?
Lịch Cộng hoà gặp ba trở ngại. Tuần mười ngày làm thay đổi nhịp nghỉ của người lao động. Hệ lịch không khớp với lịch của các nước láng giềng, gây phiền cho thương mại và ngoại giao. Và thói quen dùng tuần bảy ngày, các ngày lễ truyền thống vẫn sống rất mạnh trong đời sống thường ngày.
Napoléon cho bỏ lịch Cộng hoà, nước Pháp quay lại lịch Gregory từ ngày 1 tháng 1 năm 1806. Hệ lịch còn được dùng lại ngắn ngủi trong thời Công xã Paris năm 1871. Dấu vết còn lại đến nay chủ yếu nằm trong tên các sự kiện, tên tác phẩm văn học như tiểu thuyết Germinal của Émile Zola, và tên một số món ăn.
Tên ngày trong tuần và năm ngày cuối năm
Mười ngày trong một décade được gọi theo số thứ tự bằng tiếng La tinh ghép: primidi, duodi, tridi và cứ thế đến décadi, ngày thứ mười. Trong lịch treo tường thời đó, mỗi ngày còn kèm một tên riêng: phần lớn là cây trồng, hoa quả, khoáng vật; ngày thứ năm của mỗi tuần mang tên một con vật nuôi, ngày thứ mười mang tên một nông cụ. Người dân thay vì mừng ngày một vị thánh thì đọc thấy tên một loại rau, một con dê hay cái cày.
Năm hoặc sáu ngày bổ sung cuối năm được dành làm ngày lễ của cộng đồng, mỗi ngày gắn với một giá trị như đức hạnh, tài năng, lao động, dư luận, phần thưởng; ngày thứ sáu, chỉ có trong năm nhuận, là ngày lễ cách mạng. Khi gặp những ngày này trong tài liệu, nhớ rằng chúng nằm sau tháng Fructidor và trước 1 Vendémiaire của năm kế tiếp, tức khoảng giữa và cuối tháng 9 dương lịch.
Đọc một văn bản Pháp ghi theo lịch Cộng hoà
Khi gặp một ngày tháng lạ trong thư từ, báo chí, giấy tờ Pháp giai đoạn 1793–1805, làm theo thứ tự sau.
- Nhận ra năm ghi bằng số La Mã, như năm II, năm VIII, và tên tháng thuộc danh sách mười hai tháng ở trên.
- Đổi năm Cộng hoà ra khoảng năm dương: năm I trải từ cuối tháng 9 năm 1792 đến cuối tháng 9 năm 1793, năm II từ cuối tháng 9 năm 1793 đến cuối tháng 9 năm 1794, và cứ thế cộng thêm.
- Xác định tháng rơi vào nửa nào của năm Cộng hoà: từ Vendémiaire đến khoảng mười ngày đầu Nivôse còn ở năm dương đầu, phần còn lại của Nivôse và các tháng từ Pluviôse trở đi đã sang năm dương sau.
- Tra bảng đối chiếu theo năm để có ngày chính xác.
- Ghi lại cả hai ngày khi trích, giữ tên tháng gốc vì nó thường là một phần tên sự kiện.
Bước ba là chỗ hay sai: tháng Brumaire năm VIII nằm ở năm 1799, nhưng tháng Germinal năm VIII đã là năm 1800. Người đọc vội thường gán cả năm Cộng hoà vào một năm dương.
Bài học cho người học về lịch pháp
Lịch là quy ước xã hội. Một hệ lịch hợp lý về toán học vẫn có thể thất bại nếu đi ngược nhịp sống và thói quen.
Năm có thể được đánh số lùi. Năm I được tính từ trước khi lịch ra đời; nhiều hệ đếm năm khác cũng làm vậy.
Tên sự kiện mang theo hệ lịch. Thấy tên tháng lạ trong sách Pháp giai đoạn 1793–1805, hãy nghĩ ngay đến lịch Cộng hoà trước khi tra.
Quy đổi cần bảng theo năm. Đầu tháng xê dịch và năm nhuận theo thu phân làm phép cộng nhẩm không đủ tin cậy.
Câu hỏi thường gặp
Ngày 9 Thermidor là ngày nào theo dương lịch?
Ngày 9 Thermidor năm II của lịch Cộng hoà Pháp ứng với ngày 27 tháng 7 năm 1794, ngày Robespierre bị lật đổ.
Đảo chính 18 Brumaire diễn ra ngày nào?
Ngày 18 Brumaire năm VIII ứng với ngày 9 tháng 11 năm 1799, khi Napoléon Bonaparte nắm quyền và lập chế độ Tổng tài.
Lịch Cộng hoà Pháp dùng trong bao lâu?
Lịch được thông qua vào mùa thu năm 1793, tính lùi năm I từ 22 tháng 9 năm 1792, và bị bỏ từ ngày 1 tháng 1 năm 1806, tức dùng chính thức khoảng mười hai năm.
Một tuần trong lịch Cộng hoà có mấy ngày?
Mười ngày, gọi là décade. Mỗi tháng 30 ngày gồm đúng ba tuần như vậy, ngày thứ mười là ngày nghỉ.
Vì sao không thể quy đổi lịch Cộng hoà bằng một phép cộng cố định?
Vì năm mới bắt đầu theo ngày thu phân thực tế, nên ngày đầu tháng xê dịch một ngày giữa các năm và năm nhuận không theo quy tắc đều. Muốn chính xác cần bảng đối chiếu từng năm.