Bằng chứng nội tại là những gì chính nội dung văn bản để lộ về thời điểm nó được viết: từ ngữ, tên địa danh, chức danh, đơn vị đo, tiền tệ, sự kiện được nhắc tới. Một chi tiết không thể có ở thời được ghi trên văn bản là dấu hiệu mạnh rằng văn bản được viết hoặc sửa muộn hơn.
Giấy, mực, kỹ thuật in là bằng chứng bên ngoài, cần đến vật liệu. Bằng chứng nội tại thì chỉ cần đọc, nên dùng được cả với bản chép, bản chụp, bản đánh máy lại. Đây là công cụ quen thuộc của người làm sử, làm lưu trữ và của bất kỳ ai muốn kiểm một tờ giấy tờ cũ trong nhà.
Nguyên tắc cốt lõi là gì?
Nguyên tắc chỉ có một câu: văn bản không sớm hơn chi tiết muộn nhất mà nó nhắc tới. Một bức thư kể chuyện đi tàu hoả thì không thể viết trước khi có đường sắt ở nơi đó. Một văn tự bán ruộng tính tiền bằng đơn vị tiền tệ của một thời kỳ thì được lập trong hoặc sau thời kỳ ấy. Mỗi chi tiết như vậy cho một mốc không sớm hơn.
Có hai điều phải đi kèm. Thứ nhất, phải chắc chi tiết đó thuộc lớp văn bản gốc, không phải lời chú, lời chép thêm của người đời sau. Thứ hai, phải biết chắc thời điểm chi tiết đó xuất hiện. Nhiều kết luận sai bắt nguồn từ việc người kiểm tưởng một từ “mới” nhưng thật ra đã có từ lâu, chỉ ít gặp.
Một ví dụ dễ hình dung với người đọc hôm nay: văn bản nào nói đến “34 tỉnh, thành” và không còn đơn vị hành chính cấp trung gian giữa tỉnh và xã thì không thể soạn trước giữa năm 2025. Mọi thời kỳ đều có những dấu hiệu tương tự, chỉ là người đời sau phải tra mới biết.
Những loại chi tiết nào hay để lộ thời gian?
Địa danh và đơn vị hành chính
Tên tỉnh, phủ, tổng, xã thay đổi qua các triều đại và các lần cải cách hành chính. Một văn bản tự nhận lập thế kỷ 18 mà dùng tên đơn vị hành chính chỉ đặt ra ở thế kỷ 19 là mâu thuẫn. Cách kiểm là tra các sách địa chí, các nghiên cứu về lịch sử địa danh của vùng đó.
Chức danh, tước hiệu, cơ quan
Mỗi triều đại có hệ thống quan chức riêng; thời Pháp thuộc, thời kỳ sau năm 1945 lại có những chức danh, cơ quan khác. Người ký tự xưng một chức chưa tồn tại, hoặc một cơ quan đã giải thể trước ngày ghi trên văn bản, là chi tiết cần đánh dấu.
Tiền tệ, đơn vị đo, giá cả
Đơn vị tiền như quan, tiền, đồng bạc Đông Dương, và đơn vị đo như thước, sào, mẫu, mét, ki-lô-gam phản ánh thời kỳ. Một văn tự xưa ghi diện tích ruộng bằng mét vuông với số chính xác đến từng mét là điều khác thường. Giá cả quá lệch so với các văn tự cùng thời cùng vùng cũng là chỗ cần hỏi.
Từ ngữ và cách viết
Từ chỉ vật dụng, kỹ thuật, khái niệm mới có thời điểm xuất hiện. Chính tả quốc ngữ, cách viết hoa, dấu câu cũng đổi theo thời gian. Văn bản Hán Nôm có thêm những dấu hiệu như chữ kiêng huý, cách ghi niên hiệu; đây là chuyên đề riêng của ngành Hán Nôm học, cần người đọc chữ Hán có kinh nghiệm.
Bảng các loại bằng chứng nội tại
Mỗi loại cho một kiểu mốc khác nhau. Ghi rõ mốc nào là “không sớm hơn”, mốc nào là “không muộn hơn”.
| Loại chi tiết | Ví dụ cách dùng | Cho mốc | Bẫy cần tránh |
|---|---|---|---|
| Địa danh hành chính | Tên đơn vị chỉ có từ một lần cải cách | Không sớm hơn lần đặt tên | Người chép lại cập nhật tên mới |
| Chức danh, cơ quan | Chức quan chỉ có ở một triều | Trong khoảng tồn tại của chức đó | Chức danh cũ vẫn được dùng như cách gọi kính trọng |
| Tiền tệ, đơn vị đo | Đơn vị tiền của một thời kỳ | Không sớm hơn lúc đơn vị ra đời | Đơn vị cũ còn dùng trong dân lâu sau khi bỏ |
| Sự kiện được nhắc | Nhắc một trận lụt, một lần đổi niên hiệu | Không sớm hơn sự kiện | Lời nhắc có thể là phần chép thêm |
| Người còn sống hay đã mất | Gọi một người là cố, là tiên sinh đã khuất | Không sớm hơn năm người đó mất | Năm mất của người đó phải được biết chắc |
| Ngày tháng và can chi | Ngày âm, ngày can chi, thứ trong tuần | Kiểm tính nhất quán | Bảng quy đổi sai hoặc lịch địa phương lệch |
Kiểm ngày tháng bằng cách nào?
Tính nhất quán bên trong
Nhiều văn bản ghi ngày theo nhiều cách cùng lúc: niên hiệu năm thứ mấy, năm can chi, tháng âm lịch, ngày can chi, có khi kèm ngày dương lịch và thứ trong tuần. Các thông tin này phải khớp nhau. Năm thứ mấy của một niên hiệu phải rơi đúng vào năm can chi được ghi; ngày dương lịch phải ứng đúng thứ trong tuần.
Những lỗi người làm giả hay mắc
Người làm giả thường biết niên hiệu nhưng tính sai năm thứ mấy, hoặc ghi một niên hiệu kèm năm can chi không thuộc khoảng của niên hiệu đó. Có người ghi ngày dương lịch cho một văn bản mà thời ấy không ai dùng dương lịch. Có người ghi một ngày âm lịch không tồn tại, như ngày 30 của tháng chỉ có 29 ngày năm đó.
Cẩn thận với kết luận vội
Không phải sai lệch nào cũng là giả. Người xưa có lúc nhầm, lịch ở mỗi thời có lần điều chỉnh, và niên hiệu đổi giữa năm nên văn bản ở vùng xa có thể vẫn dùng niên hiệu cũ một thời gian vì tin chưa tới. Một chỗ lệch nhỏ là lý do để kiểm thêm, nhiều chỗ lệch cùng chiều mới là bằng chứng mạnh.
Ai làm việc này trong thực tế, và họ làm thận trọng ra sao?
Người làm lưu trữ và sử học. Họ đối chiếu văn bản với hồ sơ cùng thời ở kho lưu trữ, sổ địa bạ, sắc phong, các văn bản có niên đại chắc khác của cùng địa phương. Một chi tiết lạ chỉ được coi là mâu thuẫn sau khi đã tra đủ.
Người nghiên cứu Hán Nôm. Họ đọc thêm những dấu hiệu chỉ người biết chữ Hán mới thấy: cách dùng chữ, công thức văn bản hành chính của từng triều, chữ kiêng huý, lối viết tắt.
Người giữ gia phả, văn tự trong họ. Họ có lợi thế biết người, biết đất, biết lời kể. Ghi lại cẩn thận những gì văn bản nói và những gì người trong họ nhớ, tách bạch hai loại, là đóng góp rất có giá trị.
Thử đọc một văn bản theo cách của người kiểm
Có thể áp dụng cho bất kỳ giấy tờ cũ nào, kể cả bản dịch quốc ngữ của văn bản Hán Nôm.
- Chép ra mọi tên riêng: người, đất, cơ quan, chức danh.
- Chép mọi đơn vị: tiền, diện tích, khối lượng, độ dài.
- Chép mọi chi tiết về thời gian: niên hiệu, can chi, ngày tháng, sự kiện được nhắc.
- Với mỗi mục, tra xem nó tồn tại trong khoảng thời gian nào, ghi nguồn tra.
- Đặt các khoảng lên cùng một trục thời gian, tìm phần giao nhau.
- Nếu không có phần giao nhau, đánh dấu mục gây mâu thuẫn và hỏi người có chuyên môn trước khi kết luận.
Câu hỏi thường gặp
Bằng chứng nội tại có thay được phân tích giấy, mực không?
Không thay được mà bổ sung cho nhau. Bằng chứng nội tại cho biết nội dung thuộc thời nào, còn giấy và mực cho biết bản vật chất được làm khi nào. Một bản chép muộn có thể mang nội dung rất cũ.
Tên địa danh mới trong văn bản cũ có chắc là văn bản giả không?
Chưa chắc. Người chép lại hoặc người dịch có thể đã thay tên cũ bằng tên mới cho dễ hiểu. Cần xem bản gốc hoặc các bản chép khác trước khi kết luận.
Kiểm ngày âm lịch xưa bằng công cụ nào?
Có thể dùng các bảng đối chiếu âm dương lịch đã được giới nghiên cứu biên soạn. Cần chọn bảng theo lịch Việt Nam, vì lịch Việt và lịch Trung Hoa có những năm lệch nhau một tháng hay một ngày.
Văn bản có sai một chi tiết nhỏ thì nên xử lý thế nào?
Ghi chú lại chỗ sai và tiếp tục kiểm các chi tiết khác. Người xưa cũng có lúc nhầm. Chỉ khi nhiều chi tiết cùng chỉ về một thời muộn hơn, kết luận về niên đại mới đáng tin.
Có nên tự sửa chỗ sai trong gia phả cho đúng không?
Không nên sửa trên bản gốc. Hãy ghi chú riêng, nói rõ chỗ nghi và lý do. Bản gốc với cả chỗ sai của nó cũng là một chứng cứ lịch sử.