Ka là nghìn năm, Ma là triệu năm, Ga là tỷ năm. Các ký hiệu này ghép chữ a (annum, nghĩa là năm) với tiền tố đo lường quen thuộc k, M, G. Ví dụ 66 Ma đọc là khoảng 66 triệu năm trước, 4,54 Ga là khoảng 4,54 tỷ năm.
Khi chuyển từ sách Lịch sử sang sách Địa lí hay tài liệu khoa học về Trái Đất, người đọc bỗng gặp cả một bộ ký hiệu mới. Cái khó không nằm ở bản thân ký hiệu, mà ở những chỗ dễ nhầm đi kèm: tuổi hay khoảng thời gian, dấu chấm hay dấu phẩy, billion dịch là gì. Bài này gom các chỗ ấy lại để bạn đọc và viết số lớn cho chuẩn.
Bảng ký hiệu thường gặp
Các ký hiệu dưới đây xuất hiện trong sách, bài báo khoa học và bảo tàng tự nhiên. Một số tài liệu tiếng Anh dùng biến thể viết tắt khác cho cùng một ý.
| Ký hiệu | Gốc | Nghĩa | Ví dụ cách đọc |
|---|---|---|---|
| a hoặc yr | annum, year | năm | 500 a: khoảng 500 năm |
| ka hoặc kyr | kilo-annum | nghìn năm | 20 ka: khoảng 20 nghìn năm trước |
| Ma hoặc Myr | mega-annum | triệu năm | 66 Ma: khoảng 66 triệu năm trước |
| Ga hoặc Gyr | giga-annum | tỷ năm | 4,54 Ga: khoảng 4,54 tỷ năm trước |
| mya | million years ago | triệu năm trước | Hay gặp trong sách phổ biến khoa học |
| BP | before present | trước năm 1950 | Dùng nhiều cho thang nghìn năm |
Bạn để ý chữ hoa, chữ thường: ka viết thường, Ma và Ga viết hoa chữ đầu, giống quy ước tiền tố trong hệ đo lường quốc tế. Viết “MA” hay “ma” dễ gây nhầm với các viết tắt khác.
Tuổi hay khoảng thời gian?
Trong nhiều tài liệu địa chất, có một quy ước tinh tế: Ma dùng cho một thời điểm trong quá khứ, còn Myr hay m.y. dùng cho độ dài một khoảng thời gian. Theo quy ước này, “kỷ Phấn trắng kết thúc khoảng 66 Ma” nói về một thời điểm, còn “quá trình ấy kéo dài khoảng 2 Myr” nói về độ dài.
Không phải tài liệu nào cũng giữ quy ước này, và một số tổ chức khoa học khuyến nghị dùng chung một ký hiệu cho cả hai nghĩa. Vì thế khi đọc, đừng dựa hẳn vào ký hiệu mà hãy xem câu văn: có chữ “trước”, “cách nay”, hay đang nói về thời gian kéo dài. Khi bạn tự viết bằng tiếng Việt, cách rõ nhất là viết chữ: “khoảng 66 triệu năm trước” cho thời điểm, “kéo dài khoảng 2 triệu năm” cho khoảng thời gian.
Dịch billion, million cho đúng
Phần lớn lỗi con số khi dịch tài liệu khoa học sang tiếng Việt rơi vào ba chỗ dưới đây.
Billion là tỷ, không phải nghìn tỷ
Trong tiếng Anh hiện đại, billion là một nghìn triệu, tức một tỷ theo cách đếm tiếng Việt. Tuổi Trái Đất 4.54 billion years là khoảng 4,54 tỷ năm. Lỗi dịch billion thành “nghìn tỷ” làm con số phình gấp nghìn lần, và đã từng xuất hiện trong bản dịch trên mạng.
Dấu thập phân và dấu phân cách
Tiếng Anh dùng dấu chấm cho phần thập phân và dấu phẩy để phân nhóm hàng nghìn; tiếng Việt làm ngược lại. 4.54 trong tài liệu tiếng Anh phải viết thành 4,54 trong tiếng Việt; 11,700 trong tiếng Anh phải viết thành 11.700. Chép nguyên dấu từ bản gốc là cách nhanh nhất để biến 4,54 tỷ năm thành bốn nghìn năm trăm bốn mươi tỷ năm trong mắt người đọc Việt.
Million years ago
Cụm million years ago dịch là triệu năm trước. Cụm million years old dịch là triệu năm tuổi. Về con số thì như nhau, nhưng câu tiếng Việt nên giữ đúng chữ trước và chữ tuổi để phân biệt thời điểm với tuổi của một vật.
Vì sao các thang này cần ký hiệu riêng?
Thời gian sâu trải qua nhiều bậc độ lớn. Từ một vài nghìn năm của lịch sử có chữ viết, lên vài chục nghìn năm của thời băng hà gần nhất, lên hàng chục triệu năm của kỷ khủng long, lên hàng tỷ năm của tuổi Trái Đất. Viết tất cả bằng chữ số đầy đủ vừa dài vừa dễ đếm sai số 0. Ký hiệu ka, Ma, Ga cho phép đặt các con số ấy cạnh nhau trên một trang mà vẫn đọc được.
Một vài mốc phổ biến giúp bạn định vị: lần băng hà gần nhất đạt cực đại vào khoảng 20 ka; thế Holocene, giai đoạn khí hậu ấm hiện nay, bắt đầu khoảng 11,7 ka; sự tuyệt chủng của khủng long không phải chim xảy ra khoảng 66 Ma; Trái Đất có tuổi khoảng 4,54 Ga, với sai số cỡ vài chục triệu năm. Những con số này nằm trong tài liệu địa chất phổ thông và được ghi kèm chữ “khoảng” vì đều có sai số.
Sai số ở thang triệu năm, tỷ năm đọc thế nào?
Một con số có ký hiệu Ma hay Ga thường đi kèm phần sai số, và cách cảm nhận sai số ở thang này khác hẳn thang lịch sử.
Sai số nhỏ về tỷ lệ, lớn về số năm
Ở thang thời gian sâu, sai số thường được viết bằng cùng đơn vị với con số chính, kiểu “X ± Y Ma”. Điều thú vị là một sai số rất nhỏ về tỷ lệ vẫn có thể là một khoảng thời gian khổng lồ. Tuổi Trái Đất khoảng 4,54 tỷ năm với sai số khoảng 1% nghĩa là xê dịch cỡ 45 triệu năm, bằng khoảng hai phần ba quãng thời gian từ khi khủng long không phải chim tuyệt chủng tới nay, và dài hơn lịch sử loài người hàng trăm lần.
Đừng so sai số khác thang
Vì vậy so sánh độ chắc của một niên đại địa chất với một niên đại khảo cổ chỉ bằng số năm là khập khiễng. Niên đại khảo cổ sai số 50 năm và niên đại địa chất sai số 50 nghìn năm có thể có độ chính xác tương đương nhau nếu tính theo tỷ lệ. Khi đọc, hãy tự hỏi sai số chiếm bao nhiêu phần trăm của con số, chứ không chỉ nó dài bao nhiêu năm.
Một tình huống khi soạn bài
Một giáo viên Khoa học tự nhiên chuẩn bị tiết học về lịch sử Trái Đất, lấy số liệu từ một trang tiếng Anh. Trên trang ghi các mốc 4.54 Ga, 252 Ma, 66 Ma. Bản nháp đầu tiên của giáo viên chép thẳng dấu chấm, khiến học sinh đọc 4.54 thành bốn nghìn năm trăm bốn mươi. Sửa lại thành 4,54 tỷ năm, khoảng 252 triệu năm trước và khoảng 66 triệu năm trước, rồi viết thêm một dòng nhỏ giải thích ký hiệu, cả lớp đọc trôi chảy.
Giáo viên còn làm thêm một việc hữu ích: đặt ba mốc ấy lên cùng một đoạn dây dài, theo đúng tỷ lệ. Học sinh thấy ngay khoảng thời gian từ khủng long tới nay chỉ là một đoạn rất ngắn ở cuối dây. Con số trên giấy trở thành một hình ảnh nhớ được.
Quy ước viết số lớn trong bài tiếng Việt
Dùng dấu chấm phân nhóm hàng nghìn. Viết 11.700 năm, 300.000 năm. Số có bốn chữ số chỉ năm lịch như năm 1010 thì không cần dấu.
Dùng dấu phẩy cho phần thập phân. Viết 4,54 tỷ năm, 2,6 triệu năm.
Ưu tiên chữ cho đơn vị lớn. Viết “66 triệu năm” dễ đọc hơn “66.000.000 năm”, và ít nguy cơ đếm sai số 0.
Giữ chữ “khoảng”. Các mốc thời gian sâu đều có sai số; bỏ chữ khoảng là tạo cảm giác chính xác tới từng năm.
Ghi ký hiệu gốc khi trích tài liệu chuyên ngành. Ví dụ “khoảng 66 triệu năm trước (66 Ma)”, giúp người đọc đối chiếu được với nguồn.
Câu hỏi thường gặp
Ma trong địa chất nghĩa là gì?
Ma là viết tắt của mega-annum, nghĩa là triệu năm. Trong nhiều tài liệu, 66 Ma được hiểu là khoảng 66 triệu năm trước, tức một thời điểm trong quá khứ.
Ka và kyr có khác nhau không?
Cả hai đều chỉ nghìn năm. Một số tài liệu dùng ka cho thời điểm và kyr cho độ dài khoảng thời gian, nhưng quy ước này không được mọi nơi tuân theo, nên hãy xem ngữ cảnh câu văn.
Billion years dịch sang tiếng Việt là gì?
Billion years là tỷ năm. Ví dụ 4.54 billion years là khoảng 4,54 tỷ năm. Dịch thành nghìn tỷ năm là sai gấp nghìn lần.
Vì sao viết 4,54 mà không viết 4.54?
Vì tiếng Việt dùng dấu phẩy cho phần thập phân và dấu chấm để phân nhóm hàng nghìn, ngược với tiếng Anh. Chép nguyên dấu từ tài liệu tiếng Anh dễ làm người đọc hiểu sai con số.
Mya là gì?
Mya là viết tắt tiếng Anh của million years ago, nghĩa là triệu năm trước. Ký hiệu này hay gặp trong sách phổ biến khoa học hơn là trong bài báo chuyên ngành.