Niên đại một ngôi đình được ghép từ nhiều nguồn: dòng chữ trên xà nóc, bia trùng tu, kiểu bộ vì, phong cách chạm và dấu vết gỗ thay mới. Gần như đình nào cũng là nhiều lớp thời gian, nên câu trả lời đúng thường là “bộ khung chính khoảng thế kỷ nào, tu sửa vào những lần nào”.
Báo chí hay viết “ngôi đình 400 năm tuổi” như thể cả công trình được dựng một lần rồi giữ nguyên. Thực tế kiến trúc gỗ nhiệt đới luôn phải sửa: mái dột thì thay ngói, cột mục chân thì thay cột, mối ăn thì thay xà. Người nghiên cứu di tích vì thế không hỏi đình bao nhiêu tuổi, mà hỏi từng bộ phận bao nhiêu tuổi.
Chữ ghi trên công trình nói gì, và nói thiếu gì?
Chữ trên thượng lương
Thượng lương là cây xà cao nhất ở nóc. Khi dựng hoặc làm lại mái, người xưa thường viết hoặc khắc lên đó một dòng chữ Hán ghi niên hiệu, năm can chi, tháng ngày cất nóc, đôi khi kèm tên người hưng công. Đây là chứng cứ tốt nhất, nhưng cần hiểu đúng: nó ghi ngày dựng cây xà đó, có thể là lần dựng đầu, cũng có thể là lần trùng tu thứ ba.
Bia đá, hoành phi, câu đối
Bia trùng tu dựng trong sân đình kể lại các lần sửa chữa, ai góp công, góp của. Hoành phi, câu đối có lạc khoản ghi năm cúng tiến. Những thứ này cho biết các mốc hoạt động của công trình, nhưng hoành phi, câu đối có thể được chuyển từ nơi khác về hoặc làm sau, nên chỉ chứng minh cho chính nó.
Điều chữ không nói
Không có chữ ghi lại chuyện thay một cây cột, thay vài mảng ván. Không có chữ ghi các lần sửa của thời gần đây nếu làng không dựng bia. Vì vậy phải đọc thêm từ chính gỗ và kết cấu.
Bộ vì và chạm khắc giúp ước thời kỳ ra sao?
Bộ vì là hệ khung gỗ đỡ mái, gồm cột, xà, kẻ, bẩy, rường xếp chồng. Cách tổ hợp các cấu kiện, tỷ lệ cột, cách làm mộng thay đổi dần qua các thế kỷ. Giới nghiên cứu kiến trúc đã khảo sát nhiều công trình có niên đại chắc, rồi dùng chúng làm mốc để so các công trình chưa rõ tuổi.
Chạm khắc là chỉ dấu dễ thấy hơn với người không chuyên. Nhiều ngôi đình được xếp vào khoảng thế kỷ 16 – 17 có những mảng chạm dày, sâu, đề tài sinh hoạt dân gian sinh động: người cưỡi ngựa, đấu vật, uống rượu, nô đùa. Đình làm hoặc sửa lớn về sau thường có chạm nông hơn, đề tài tứ linh, hoa lá chuẩn mực hơn. Đây là xu hướng chung, không phải luật: một làng có thể giữ lối chạm cũ lâu hơn nơi khác, và thợ đời sau có thể chạm phỏng theo đời trước.
Một chi tiết khác hay được dùng là cách xử lý đầu kẻ, đầu bẩy và con rường. Ở những công trình sớm, các cấu kiện này thường to, khoẻ, chạm liền khối với kết cấu. Về sau chúng có xu hướng thanh mảnh hơn, phần trang trí tách thành mảng gắn thêm. Người khảo sát so từng chi tiết với những công trình đã có niên đại ghi trên xà hoặc trên bia trong cùng vùng, vì thợ mỗi vùng có truyền thống riêng và không thể đem một chuẩn chung áp cho cả nước.
Phong cách cho một khoảng thời gian rộng, thường tính bằng thế kỷ. Muốn hẹp hơn phải kết hợp với chữ trên xà và các dấu vết vật chất khác.
Bảng mỗi bộ phận, một nguồn niên đại
Khi đọc tài liệu về một ngôi đình, hãy xem niên đại được nói tới dựa trên bộ phận nào, theo bảng dưới.
| Bộ phận | Nguồn niên đại | Độ tin cậy | Điều cần nhớ |
|---|---|---|---|
| Thượng lương | Chữ ghi ngày cất nóc | Cao cho lần dựng xà đó | Có thể là lần trùng tu chứ không phải lần dựng đầu |
| Bộ vì, cột | Kết cấu, chạm khắc, so sánh | Trung bình, theo khoảng thế kỷ | Một số cấu kiện có thể đã thay |
| Bia trùng tu | Lạc khoản, nội dung bia | Cao cho sự kiện được kể | Không ghi những lần sửa nhỏ |
| Hoành phi, câu đối | Lạc khoản | Chỉ cho chính đồ vật | Có thể chuyển từ nơi khác về |
| Ngói, gạch, nền | Kiểu ngói, kích thước gạch | Thấp, dễ thay | Thường là lớp mới nhất |
| Gỗ cột, xà | Vòng cây, carbon-14 | Cao nếu đủ mẫu và đường chuẩn | Cho tuổi cây bị chặt, không phải năm dựng |
Dấu vết tu sửa nhận ra thế nào?
Màu gỗ và vết dụng cụ khác nhau. Gỗ thay mới thường sáng màu hơn, thớ khác loại, bề mặt bào máy phẳng đều thay vì vết bào tay gợn nhẹ. Đứng dưới bộ vì nhìn lên, bạn có thể thấy một cây kẻ hay một đoạn xà khác hẳn màu những cấu kiện xung quanh.
Mộng và chốt. Kết cấu truyền thống liên kết bằng mộng gỗ và chốt gỗ. Đinh sắt công nghiệp, bu lông, đai thép, ke sắt là dấu hiệu của các lần gia cố về sau.
Chân cột và nền. Chân cột bó xi măng, kê trên tảng bê tông, nền lát gạch công nghiệp cho biết lần sửa thời hiện đại. Chân tảng đá kê cột cũ thường được giữ lại và có thể còn hoa văn của thời trước.
Mái nâng, mái hạ. Có những lần trùng tu nâng cao nền và mái, làm thay đổi tỷ lệ cả công trình. Vết mộng cũ bỏ trống trên cột là dấu cho thấy cấu kiện đã được dời chỗ hoặc thay đổi.
Phòng thí nghiệm giúp được gì cho kiến trúc gỗ?
Niên đại vòng cây
Đếm và so chuỗi vòng năm của gỗ với một chuỗi chuẩn của vùng có thể cho biết năm cây bị chặt, đôi khi chính xác đến từng năm. Phương pháp này đã thành công lớn ở châu Âu với gỗ sồi. Ở Việt Nam, nhiều loài gỗ nhiệt đới có vòng năm không rõ hoặc không đều, nên việc dựng chuỗi chuẩn vẫn đang là hướng nghiên cứu, mới có kết quả với một số loài cây lá kim vùng núi.
Carbon-14 cho gỗ
Carbon-14 đo được tuổi gỗ, và khi lấy nhiều mẫu ở các vòng khác nhau của cùng một khúc gỗ, người ta có thể thu hẹp sai số đáng kể. Cần nhớ kết quả là tuổi của vòng gỗ được đo; lõi cây lớn có thể già hơn năm chặt hàng trăm năm, và gỗ cũ có thể được dùng lại khi làm đình mới.
Ai được lấy mẫu
Lấy mẫu gỗ ở di tích đã xếp hạng phải theo quy định về bảo vệ di tích, do cơ quan chuyên môn thực hiện có sự đồng ý của nơi quản lý. Người tham quan, kể cả nhà nghiên cứu nghiệp dư, không tự khoan, cạy hay tách mẫu.
Khi đi thăm một ngôi đình, bạn có thể ghi lại gì?
Những ghi chép sau giúp bạn tự đọc được các lớp thời gian, và có ích nếu sau này chia sẻ với người nghiên cứu.
- Ảnh bộ vì chụp từ dưới lên, ở cả gian giữa và gian bên.
- Ảnh cận các mảng chạm, nhất là chỗ khác phong cách với xung quanh.
- Vị trí các cấu kiện khác màu gỗ, có đinh sắt, bu lông.
- Bia trong sân, hoành phi, câu đối: chụp rõ phần lạc khoản.
- Lời kể của người trông coi về các lần sửa, hỏi rõ năm và bộ phận được sửa.
Không trèo lên bộ vì, không chạm vào mảng chạm đã yếu, không dùng đèn flash mạnh sát mặt gỗ sơn son thếp vàng.
Câu hỏi thường gặp
Đình làng cổ nhất ở Việt Nam bao nhiêu tuổi?
Theo tài liệu phổ biến, những ngôi đình còn giữ được bộ khung cổ nhất thường được xếp vào khoảng thế kỷ 16. Các con số cụ thể tuỳ cách tính và tuỳ bộ phận được xét, nên cần đọc kỹ nguồn.
Đình đã trùng tu thì còn được gọi là đình cổ không?
Vẫn có thể, nếu bộ khung chính và các cấu kiện quan trọng được giữ lại. Điều cần là ghi rõ bộ phận nào cũ, bộ phận nào mới, thay vì gán một niên đại cho cả công trình.
Chữ trên thượng lương đọc thế nào nếu không biết chữ Hán?
Bạn có thể chụp ảnh rõ dòng chữ và nhờ người đọc Hán Nôm. Phần quan trọng nhất thường là niên hiệu, năm can chi và cụm chữ chỉ việc dựng hay sửa.
Vì sao đình hay được sửa lại nhiều lần?
Vì gỗ, ngói, mái lá chịu mưa nắng, mối mọt và bão. Sau vài chục năm, cột chân mục, ngói vỡ, xà võng là chuyện tự nhiên, nên làng phải tu bổ định kỳ.
Tuổi gỗ đo được có phải là năm dựng đình không?
Không hẳn. Gỗ có thể được chặt rồi để khô nhiều năm, lấy từ công trình cũ dùng lại, hoặc mẫu đo nằm ở lõi cây già hơn năm chặt. Tuổi gỗ là mốc sớm nhất cho lần dựng.